Thổ cẩm của người M'Nông là vải dệt tay trên khung dệt đeo lưng, nền thường là màu chàm đen hoặc xanh thẫm, điểm các dải hoa văn đỏ, trắng, vàng. Gùi là vật dụng đan bằng mây, tre, lồ ô, đeo sau lưng để chở lúa, củi, nước, đồ đi chợ. Theo phân công truyền thống, phụ nữ dệt vải, đàn ông đan gùi.
Ở vùng Gia Nghĩa, thổ cẩm và gùi M'Nông vẫn được làm ở một số bon, xuất hiện trong lễ hội, trong trang phục đội chiêng và trên quầy hàng lưu niệm. Bài này giải thích cách dệt, ý nghĩa trang phục, các loại gùi, nghề còn sống ra sao, và cách người mua phân biệt đồ làm tay với hàng in, hàng công nghiệp để tiền đến đúng tay người làm.
Từ sợi bông đến tấm vải: quy trình dệt truyền thống
Quy trình dưới đây là cách làm truyền thống được mô tả ở nhiều cộng đồng Tây Nguyên, trong đó có người M'Nông. Hiện nay nhiều khâu đầu đã được rút ngắn bằng sợi mua sẵn.
- Trồng bông. Bông vải được trồng xen trên rẫy, thu hái vào mùa khô.
- Cán và bật bông. Tách hạt khỏi bông, bật cho bông tơi.
- Se sợi. Dùng con quay se bông thành sợi, công việc làm lúc rảnh, cả khi ngồi bên bếp.
- Nhuộm. Sợi được nhuộm bằng lá, vỏ, rễ cây rừng: chàm cho màu xanh đen, các loại vỏ cây và củ cho màu đỏ, vàng, nâu. Nhuộm nhiều lần để màu bền.
- Mắc sợi lên khung. Sợi dọc được căng giữa hai thanh gỗ; một đầu buộc vào cột nhà hay gốc cây, đầu kia là dây đai vòng qua lưng người dệt.
- Dệt. Người dệt ngồi duỗi chân, ngả người ra sau để giữ căng sợi, luồn sợi ngang, dùng thanh gỗ dập chặt. Hoa văn tạo bằng cách nhặt sợi theo mẫu thuộc lòng.
- Hoàn thiện. Ghép các khổ vải hẹp lại thành váy, áo, khố, tấm choàng; viền, đính tua, đính hạt cườm.
Vì khung dệt đeo lưng chỉ dệt được khổ hẹp, một chiếc váy phải ghép từ nhiều khổ. Một tấm vải hoa văn dày có thể mất nhiều ngày đến vài tuần, tuỳ độ phức tạp và thời gian rảnh của người dệt. Đây là lý do thổ cẩm dệt tay không bao giờ rẻ như vải in.
Màu sắc, hoa văn và trang phục
Màu nền chàm thẫm gần như đen là đặc trưng dễ nhận ra của thổ cẩm nhiều dân tộc nam Tây Nguyên, trong đó có M'Nông. Trên nền ấy là các dải hoa văn chạy ngang: hình học như thoi, tam giác, răng cưa, đường gấp khúc, và những mô típ lấy từ đời sống như hình cây, hình người, hình con vật, dấu chân. Màu đỏ thường nổi bật nhất, đi kèm trắng, vàng.
Ý nghĩa của từng hoa văn nên được hỏi từ chính người dệt. Các bài viết phổ thông hay gán nghĩa cho hoa văn một cách chắc chắn, nhưng người dệt có khi chỉ nói đây là mẫu mẹ dạy, tên gọi theo hình dáng, không gắn một ý nghĩa cố định. Tôn trọng lời người làm hơn lời giải thích in trên nhãn.
Trang phục truyền thống của nam giới gồm khố quấn quanh hông, áo hoặc tấm choàng; nữ giới mặc váy quấn dài và áo ngắn. Trong ngày thường hiện nay hầu như không còn ai mặc như vậy; trang phục truyền thống xuất hiện trong lễ hội, trong đội chiêng, đám cưới, hoặc khi người M'Nông đi dự sự kiện văn hoá. Nhiều phụ nữ vẫn có một bộ váy áo thổ cẩm cất kỹ cho những dịp này.
Ngoài trang phục, thổ cẩm còn dùng làm chăn, địu con, túi, dây đeo gùi, và là phần quan trọng trong sính lễ, quà biếu giữa các gia đình.
Gùi: đồ dùng của người đàn ông khéo tay
Đan gùi là việc của đàn ông. Ở nhiều bon M'Nông, đàn ông đan gùi, giỏ, nong, nia, mũ, những đồ đan cần lực và độ khéo. Đàn ông giỏi đan được bon làng nể, giống như phụ nữ giỏi dệt.
Nguyên liệu là mây, tre, lồ ô. Tre, lồ ô chẻ nan, vót mỏng; mây chẻ để buộc, viền, làm quai. Nan được phơi, hun khói trên giàn bếp để bền, chống mọt, và có màu nâu bóng tự nhiên.
Mỗi loại gùi một việc. Gùi to đan thưa để chở củi, bắp, lúa từ rẫy về; gùi đan dày, có nắp, để đựng lúa gạo, đồ quý; gùi nhỏ cho trẻ em và cho phụ nữ đi chợ; gùi hoa văn đan cầu kỳ, dùng khi đi lễ, đi thăm họ hàng.
Gùi đi kèm dây đeo và cách đeo riêng. Gùi đeo bằng hai quai qua vai, có khi thêm dây vòng qua trán để chia lực khi đi dốc. Trên các sườn đồi vùng Gia Nghĩa, gùi tiện hơn quang gánh vì để hai tay tự do bám cây, chống gậy.
Gùi còn được dùng hằng ngày. Khác với thổ cẩm chủ yếu dùng dịp lễ, gùi vẫn là đồ dùng thật ở nhiều bon: đi rẫy, hái cà phê, gùi củi. Gùi nhựa, gùi lưới công nghiệp đã xuất hiện, nhưng gùi tre vẫn được nhiều người chuộng vì nhẹ và thoáng.
Nghề còn sống ra sao ở vùng Gia Nghĩa
Nghề dệt đối mặt với khó khăn quen thuộc của nghề thủ công: tốn thời gian, thu nhập thấp nếu so với công hái cà phê hay làm thuê, người trẻ ít học. Nhiều phụ nữ dệt vào mùa nông nhàn, dệt cho gia đình mình trước, bán khi có người đặt. Sợi bông tự trồng và màu nhuộm cây rừng đã hiếm; phần lớn người dệt hiện dùng sợi công nghiệp mua ở chợ, nhuộm sẵn.
Ở Đắk Nông cũ, ngành văn hoá và các hội phụ nữ đã mở lớp dạy dệt, lập tổ hợp tác dệt ở một số bon, đưa sản phẩm đi hội chợ. Những nơi làm được thường là nơi có người lớn tuổi tâm huyết, có người trẻ làm cầu nối bán hàng, và có sản phẩm hợp nhu cầu người mua hiện nay như túi, khăn, ví, vải may áo dài cách tân.
Nghề đan gùi cũng thưa người. Tre, lồ ô, mây gần nhà khó tìm hơn, công đan một chiếc gùi đẹp mất nhiều ngày. Một số người đan gùi nhỏ, giỏ đựng đồ để bán cho khách như đồ lưu niệm. Mua một chiếc gùi do chính người trong bon đan là cách trực tiếp nhất để nghề có thu nhập.
Điều đáng mừng là ở một số bon, nghề dệt không chỉ còn ở người già. Có những cô gái học dệt từ mẹ, vừa dệt vừa bán hàng qua mạng xã hội, nhận đặt may theo yêu cầu. Khi nghề tạo được thu nhập ngay tại nhà, người trẻ không phải chọn giữa giữ nghề và kiếm sống.
Phân biệt đồ làm tay với hàng in, hàng công nghiệp
Trên thị trường có nhiều sản phẩm mang hoa văn Tây Nguyên nhưng không phải do người M'Nông làm. Bảng dưới giúp người mua tự kiểm khi cầm món đồ trên tay:
| Điểm kiểm | Thổ cẩm dệt tay | Vải in hoặc dệt máy |
|---|---|---|
| Mặt trái tấm vải | Thấy sợi hoa văn đi vòng, có đầu sợi; hoa văn hiện cả hai mặt | Mặt trái trơn hoặc hoa văn mờ, đồng đều tuyệt đối |
| Khổ vải | Hẹp, nhiều khổ ghép lại bằng đường khâu | Khổ rộng, liền tấm |
| Độ đều | Có chỗ lệch nhẹ, mép không thẳng tắp | Đều như in, lặp lại chính xác |
| Độ dày | Dày, chắc, hơi cứng khi mới | Mỏng, mềm, nhẹ |
| Câu chuyện | Người bán nói được ai dệt, ở bon nào | Không rõ nguồn, nhiều mẫu giống hệt nhau |
Với gùi, đồ đan tay có nan không đều tuyệt đối, mối buộc bằng mây, màu nâu khói ở mặt trong; gùi sản xuất hàng loạt thường dùng nan đều, keo dán, màu sơn. Không có hàng nào xấu, chỉ cần người bán nói thật và người mua biết mình đang trả tiền cho cái gì.
Mua thổ cẩm và gùi sao cho đúng
Nơi tốt nhất để mua là trực tiếp ở bon có tổ dệt, hoặc ở các gian hàng do chính tổ hợp tác, hợp tác xã của đồng bào bày bán trong hội chợ, ngày hội văn hoá. Khi mua, hỏi tên người dệt, thời gian dệt, chất liệu sợi; người làm thật thường vui khi được hỏi. Đừng trả giá gắt với một tấm vải mất hàng tuần để dệt.
Nếu mua làm quà, chọn món dùng được: khăn, túi, tấm trải bàn, gùi nhỏ để đồ. Nếu muốn may áo từ thổ cẩm, nói rõ với người dệt để họ dệt khổ và màu phù hợp. Với trang phục nghi lễ như váy cưới, đồ của đội chiêng, đó là đồ của cộng đồng; mua để làm trang phục hoá trang hay chụp ảnh vui thì nên cân nhắc.
Giữ thổ cẩm: giặt tay nước lạnh, không vắt mạnh, phơi trong bóng râm để màu bền; lần giặt đầu có thể ra màu, nên giặt riêng. Giữ gùi: để nơi khô, tránh nắng gắt làm nan giòn, lâu lâu lau bằng khăn ẩm. Một tấm thổ cẩm dệt tay dùng đúng cách có thể theo người mua hàng chục năm.
Thổ cẩm đi vào sản phẩm mới: được và mất
Muốn nghề dệt sống, sản phẩm phải bán được. Ít ai ở phố mua một chiếc váy quấn để mặc hằng ngày, nhưng nhiều người mua túi xách, ví, khăn quàng, bao gối, dây đeo máy ảnh làm từ thổ cẩm. Vì thế các tổ dệt ở Tây Nguyên, kể cả quanh Gia Nghĩa, đã chuyển một phần sang dệt khổ vải để may thành đồ dùng, hoặc phối thổ cẩm với vải trơn, da, gỗ.
Cái được là người dệt có thu nhập đều hơn, người trẻ thấy nghề có tương lai, và hoa văn M'Nông đi xa hơn bon làng. Cái mất có thể là hoa văn bị cắt rời khỏi bối cảnh, màu sắc đổi theo thị hiếu, và người mua không còn biết mảnh vải trên chiếc túi do ai dệt. Khi các xưởng may lớn in hoa văn giống thổ cẩm lên vải công nghiệp với giá rẻ, người dệt tay khó cạnh tranh nếu người mua không phân biệt được.
Hướng đi nhiều nơi đã thử là gắn sản phẩm với người làm: nhãn ghi tên tổ dệt, tên bon; kể câu chuyện về hoa văn bằng lời của người dệt; bán qua hợp tác xã để giá công bằng. Người mua ở Gia Nghĩa, nhất là cơ quan, doanh nghiệp đặt quà tặng, có thể ưu tiên những sản phẩm như vậy thay vì hàng in sẵn.
Một gợi ý thực tế: khi đặt số lượng lớn, hãy đặt sớm vài tháng và hỏi tổ dệt khả năng làm được bao nhiêu, thay vì đòi đủ hàng trong vài tuần. Thổ cẩm dệt tay không thể sản xuất gấp như hàng xưởng, và ép tiến độ là đẩy người dệt sang dùng vải in.
Câu hỏi thường gặp
Khung dệt đeo lưng là gì?
Là loại khung dệt mà một đầu sợi dọc buộc vào cột nhà hay gốc cây, đầu kia nối với dây đai vòng qua lưng người dệt. Người dệt ngả người ra sau để giữ sợi căng. Khung gọn, dễ mang theo, nhưng chỉ dệt được khổ vải hẹp.
Thổ cẩm M'Nông khác thổ cẩm Ê Đê, Gia Rai thế nào?
Các dân tộc Tây Nguyên đều dùng nền màu tối và hoa văn dải ngang, nên nhìn qua khá giống. Khác biệt nằm ở mô típ hoa văn, cách phối màu, kiểu trang phục và cách ghép khổ. Người dệt của mỗi dân tộc nhận ra ngay, người ngoài nên hỏi trực tiếp.
Vì sao thổ cẩm dệt tay đắt hơn vải in nhiều?
Một tấm vải hoa văn dày cần nhiều ngày đến vài tuần dệt, chưa kể thời gian chuẩn bị sợi, nhuộm. Giá phản ánh công lao động và kỹ năng hiếm. Vải in hoa văn tương tự làm bằng máy nên rẻ, nhưng không cùng một loại sản phẩm.
Có lớp học dệt thổ cẩm cho người ngoài ở Gia Nghĩa không?
Đôi khi có lớp trải nghiệm ngắn trong các ngày hội hoặc tại điểm du lịch cộng đồng. Lớp truyền dạy chính thức thường dành cho phụ nữ, thiếu nữ trong bon. Người muốn học nên hỏi tổ dệt hoặc phòng văn hoá phường về lịch cụ thể.
Gùi tre có bền không, dùng trang trí trong nhà được không?
Gùi đan tay hun khói kỹ khá bền nếu để nơi khô ráo, tránh mưa và nắng gắt. Dùng làm giỏ đựng đồ, chậu cây khô, trang trí góc nhà đều được. Tránh để gùi trong phòng tắm hay nơi ẩm vì nan dễ mốc.
Mặc trang phục thổ cẩm M'Nông khi đi chơi có phù hợp không?
Mặc túi, khăn, áo may từ thổ cẩm mua đàng hoàng là bình thường và còn giúp nghề có đầu ra. Riêng bộ trang phục nghi lễ đầy đủ nên mặc khi được mời trong dịp phù hợp, tránh mặc để làm trò hay chụp ảnh đùa.